Huyền Không Lý Số
Left Nav Trang chủ Diễn Đàn Hỏi/Ðáp Lịch Âm Dương Tìm Kiếm Bài Trong Ngày Ðánh Dấu Ðã Ðọc Right Nav

Left Container Right Container
 
Ðăng nhập

« Ghi Danh »
» Quên mật khẩu «

Tìm Kiếm Chi Tiết

Giới Thiệu
Diễn đàn HKLS
Thông Báo
Góp ý
Hội thảo chuyên đề
Hỗ Trợ Kỹ Thuật

Nhờ Tư Vấn
Tư vấn Phong Thủy
Dịch số
Nhờ xem Tử Vi
Nhờ xem Tử Bình
So tuổi Hôn nhân-Gia đình
Nhờ Xem Tướng
Nhờ xem ngày giờ
Đặt tên cho Bé

Diễn Đàn
Phong thủy
Dịch Số
Tử Vi
Tử Bình
So tuổi Hôn nhân-Gia đình
Nhân Tướng Học
Khoa học huyền bí
Trạch cát
Tủ Sách

Nghiệm Chứng
Phong Thủy
Dịch Số
Tử Bình
Tử Vi

Phòng Thảo Luận
Phòng Thảo Luận Tử Bình
Lớp sơ cấp Tử Bình
Phòng Giải Số Tử Vi 1
Phòng Giải Số Tử Vi 2
Phòng Thảo Luận Dịch Lý


Liên kết Ứng Dụng
Xem Lịch Âm Dương
Lấy Lá Số Tứ Trụ
Ngày giờ Sóc - Tiết Khí

Liên kết
Ấm Trà Dịch Lý

Lịch Âm Dương


Trở về   Huyền Không Lý Số » Diễn đàn » Tử vi

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Tìm trong bài Xếp Bài
  #1  
Cũ 19-09-09, 09:44
htruongdinh's Avatar
htruongdinh htruongdinh is offline
Hội Viên Đặc Biệt
 
Tham gia ngày: Jun 2009
Bài gửi: 873
Hội Viên thứ: 68
Đã cảm ơn: 776
Được cảm ơn: 804 lần
trong 410 bài viết
htruongdinh is on a distinguished road
Default Cung Phúc đức

HÌNH TÍNH CÁC SAO TRONG CUNG PHÚC – ĐỨC
Thiên Cơ là mộc tinh vật là thảo mộc.
Thái Dương là Bình Dương (ruộng bằng) hình như tấm kính, người là dương hồn (mộ đàn ông).
Liêm Trinh là gò cao nổi lên (như xương sống) hình như người ốm, ngồi một mình.
Thiên Phủ là tổ sơn, Thổ tinh đại địa, linh khí ở hữu đến.
Thái Âm là gò cao chót vót, người là Âm hồn (mộ đàn bà) hình như bán nguyệt.
Tham Lang là bắc thổ chi địa (đất màu bùn đen) vật là thảo mộc um tùm, hình như con chó ngồi.
Vũ Khúc là Cô Sơn.
Hỏa Linh như cái cần giài.
Thiên Lương là đất bụi, hình như cái suối giài (cái suối trong khung cửi).
Cự Môn là cuốc đất vuông, ở dưới thì đất vàng, hình như cái chiếu giải.
Thiên Tướng là đất vuông vắn dày dặn hình như cái ấn vuông.
Thất Sát là đất khô đỏ, hình như cây cỏ giài thẳng và nhọn là Cô Sơn.
Phá Quân là cuộc đất tan lở, hình như tên quân thường cổi giáp.
Văn Xương như một cục sắc tròn.
Văn Khúc như giải nước khúc khuỷa.
Phụ Bật là đất no đầy, hình như cái cạp chiếu nổi đầy đều lên.
Thiên Khôi như cái cột tươi sáng dựng lên.
Thiên Việt như hình cái kiếm lớn.
Thiên Mã là hình con ngựa.
Lộc Tồn là đất hình vuông, hình cái thương, là cô sơn.
Dương Nhận là như cái nanh, hay con dao nhọn của lính.
Hóa Lộc là đất bao lần kim khí, hình như cái thương.
Hóa Quyền là đất như cụm cây vuông, hình như cái yên ngựa.
Hóa Khoa là cuộc đất hình cái khuôn cây như cái Bảng.
Hóa Kỵ là đất có nược ngưng tụ, bùn lầy, đất đen.
Không Kiếp là đất hung.
Phi Liêm là hỏa tinh tán loạn là cô sơn (núi đứng một mình).
Hỉ Thần là đất bằng có cát.
Bịnh Phù là đất như cái đai.
Lưỡng Hao là đất khô.
Phục Binh là đất hình nhọn, là phạn lại.
Thiên Hình là đất có mảnh sành mảnh bát vỡ là nhà tù tối tăm.
Thiên Diêu là đất gần nước, ẩm ướt, về thảo mộc thì tươi tốt um tùm.
Tam Thai đất hình tam tinh.
Bát Tọa là đất hình Bát Diệu (8 sao, hình như đồ Bát cống).
Hư Khốc là đất đường nhỏ hư lỡ.
Long Trì là đất giữ nước, hình cái ao, cái giếng cạn.
Phượng Cát là hình lâu đài, về vật là loài chim sắc đỏ, con Phượng.
Tràng Sinh là đất tụ rất nhiều nước là dãy nước dài.
Mộc Dục là đất tích tụ các thứ nước, nước ở thác xuống.
Thai là Trẩm long chi Thủy (nước có rồng lội).
Dưỡng là nuớc ở ngoài triều đến.
Quan Đái là Huyền Vũ Thủy (khí phách về Võ) là cái Đài là hình bán nguyệt.
Tử là chỗ nước chảy mau, tử thủy.
Mộ là thoái thần chi thủy.
Hồng Loan là hình cái cung, uốn lên như cái mi mắt, hình bán nguyệt là Nga mi.
Thiên Hỉ là Cát bùn.
Thái Tuế là hình cái xương sống gầy khô, hình như cái bút, về người thì chỉ thị phi quan sự.
Tấu Thư là hình Thần long đứng một mình.
Triệt Lộ là như con đường hẻm, đường làng nhỏ, cầu đất đương đầu với Huyền Vũ ắt giòng Trưởng bại.
Tuần Không là đất khoáng đạt không có gì, trong cuộc tán loạn.
Thiên Quan là Miếu Dương Thần Linh là Đình.
Thiên Phúc là Âm thần linh Tự (chùa) là Quán.
Hoa Cái là hình tựa như cái hoa, cái bát, cái cây.
Thanh Long là Trường Thủy (sông lớn) hình người mang kiếm
Phong Cao là hình cái chiếu vuông vắn.
Thai Phụ là hình cái nón
Suy là như cái xương sống gầy, sắc nhọn
Bạch Hổ là đất đá trắng là hình Số.
Phàm luận về phần Mộ thì chuyên lấy cung Phúc Đức làm bạn cung mà định cuộc đất, coi phương hướng lấy Tiểu hạn Can Chi hành độ coi xung hợp ra sao. Lấy xem các sao xung hợp đắc địa, miếu vượng hay lạc hãm mà đoán cát hung xem có Văn tinh ắt phát về Văn, có Vũ Tinh ắt phát về Võ, có Quí tinh thì phát quí, có Tài tinh thì phát phú. Lại cần phải tham bác cho kỹ những Ác sát tinh mà biện luận ắt không sai, lại lấy cả Can chi 12 cung để coi cả cuộc đất gần xa, hình Tinh các phương rất linh diệu vậy.
Xem dương Trạch cũng vậy.
Thiên Cơ, Phong Cáo, Thai-Phụ, Hóa-Khoa đứng đằng trước là Ấn Tín, đứng đằng sau là Bảng.
Cự Môn là con tuợng (voi) Thiên Việt là búa là Kiếm.
Thiên Mã là ngựa (gặp Đà La ở Tị Hợi là ngựa gãy cẳng).
Tam Thai ở cung đằng trước tà Tiền cung, Tam thai.
Thất Sát ở cung đằng sau là Hậu cung.
Thất Sát, Hỉ Thần, Thiên Hỉ là nước.
Khôi Việt là đầu, Tang Môn là châu, Tuần Triệt là Thất Lộ (lạc mất đường).
Địa Kiếp là đường bị nghẽn tắc, gặp Long Trì Thanh Long là sông bị nghẽn, giếng bị tắc.
Thất Sát, Địa Kiếp là Kiếm (vào hạng Tà không Chính)
Sương, Khúc, Khôi, Việt, Long, Phượng, Khoa, Quyền, Tả, Hữu, Hóa Lộc và Văn Tinh.
Vũ Tham, Dương, Lực Sĩ, Linh Tinh ở vượng địa, Tử Vi Thất Sát là Vũ Tinh.
Kình Dương Đà La Hỏa Linh đứng trước cung Phúc Đức là Tiền quan, đứng sau là Hậu quỉ.

Nguồn : tuvilyso.net
__________________
Chào mừng bạn đến với huyền không lý số
Trả Lời Với Trích Dẫn
Danh sách Hội Viên đã cảm ơn "htruongdinh" về bài viết có ích này:
  #2  
Cũ 19-09-09, 09:52
htruongdinh's Avatar
htruongdinh htruongdinh is offline
Hội Viên Đặc Biệt
 
Tham gia ngày: Jun 2009
Bài gửi: 873
Hội Viên thứ: 68
Đã cảm ơn: 776
Được cảm ơn: 804 lần
trong 410 bài viết
htruongdinh is on a distinguished road
Default

LUẬN CÁC SAO Ở CUNG PHÚC ĐỨC

Sao Tử Vi tọa thủ cung Phúc Đức, là Thổ Tinh Tổ Sơn đại địa, gặp cát tinh thì phát phúc lâu dài, nếu gặp Hao, Triệt, Không Kiếp là giòng Trưởng bị bại, thứ thì thành, tha hương bôn tẩu, Tổ nghiệp không vượng, địa khí đã kiệt tàn.
Tử Vi là ngôi mộ Ngũ đại nội ở vào miếu vượng địa được hưởng phúc lâu dài, gặp Thiên Phủ, Thiên Tướng thì chung thân được cát tường, gặp Phá Quân thì lao tâm phí lực bất an, hội hợp Thiên Cơ là được hưởng phúc chung thân, gia Dương Đà Hỏa Kỵ Không Kiếp phúc bạc.
Thiên Cơ là Mộc tinh, gặp Không là bóng cây, gặp Triệt là cành cây, cung cây có hoa đẹp và sinh nở được, nếu gặp được Đào, Hồng, Thai, Dưỡng là Phúc, gặp Đà La, Thiên Riêu là đất nghỉ không phát.
Sao Thiên Cơ ở cung Phúc Đức là chỉ về mộ Ông Nội, trước thì lao khổ sau mới được nhàn hạ, với Cự Môn thì có lao lực mới được yên lâu, với Thiên Lương thì được hưởng phúc, với Thái Âm là chủ khoái lạc gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là bôn tẩu không được yên tĩnh.
Thái Dương là Hỏa Tinh gặp Địa Kiếp thì đất thật phẳng, gặp Xương Khúc là Cung Huyệt như nước ánh từng khúc trong vườn thượng uyển, thường an triệt lộ ở bên thì có tài văn võ, là bậc Đống Lương trong nước.
Nếu gặp Đà Kỵ Riêu Linh tức như nước không có mạch mà cứ tiết mãi ra hết ngoài, là như “Vân ám sơn lãnh” (Đỉnh núi bị mây phủ ám) thì nhân đinh bị chết nhiều, có tật ở mắt hay đui mù.
Là ảnh hưởng mộ Cha (Cha còn sống là mộ ông Nội) trong nhà hoang mang rồi mới phát phúc, với Thái Âm là con cháu được yên vui, sung sướng. Với Cự Môn là phí lực mới lâu yên, với Thiên Lương được sung sướng yên vui, nếu là số đàn bà mà có cung Phúc Đức như vậy hội với Cát tinh là chiêu được chồng hiền minh hưởng phúc, gia Dương Đà Hỏa Kỵ Không Kiếp Kỵ Hao thì suốt đời không được mỹ mãn yên vui.
Vũ Khúc là Kim Tinh, hỉ kiến Tham Lang là Địa Khí cao hậu, sơn thủy hữu tinh, Văn võ toàn tài, xa quê hương thì phát Phúc, nếu gặp Tử Vi ở Hãm địa gia Dương Đà Khốc Hư Linh Kỵ là đất có hình dáng mà không có Huyệt, chôn ở đó là đất bại tuyệt, nếu lại gặp Tuần, Triệt, Phá Quân thì cũng làm được về Nghệ Thuật khéo léo, làm Nghệ sĩ chẳng hạn.
Vũ Khúc là mộ Tứ đại nội nếu ở Hãm địa là lao tâm phí lực ở miếu vượng địa là an nhiên hưởng phúc, có Phá Quân hội với là chạy Đông chạy Tây đời không yên tĩnh, với Thiên Tướng thì lão cảnh an khang, gặp Thất Sát là lâu mới được an khang, gặp Tham Lang càng về già càng hưởng được nhiều phúc, gặp Hỏa Linh miếu vượng là được an nhàn gia Dương Đà là hao tâm phí lực.
Thiên Đồng là Thủy đái Thổ gặp Xương Khúc Khôi Việt Khoa Quyền là đất phát nhiều Quan. Sao Khôi lập ở ngoài chiếu vào là Thiên Hạ cái thế văn chương.
Nếu gặp Đà Kỵ Tuần Triệt Kiếp Không là Huyệt không được chính chỗ tuy phát mà chỉ bình thường.
Thiên Đồng là mộ Tứ đại ngoại, là được hưởng Phúc Thọ sung sướng, với Cự Môn ắt buồn phiền vui ít, với Thái Âm đồng cung là được hưởng phúc, cùng với Thiên Lương là thanh nhàn khoái lạc.
Liêm Trinh là Hỏa Tinh đái Mộc gặp Thiên Tướng, Lộc Tồn đồng độ là địa khí nhiều mạnh và đẹp. Long, Hổ ở ngoài chầu lại thì quí được Vua phong, phú gia địch quốc. Nếu gặp Cô Thần, Quả Tú thì thành không có Tú khí, trai gái bị cô quả phải bôn tẩu tha hương.
Liêm Trinh là chỉ mộ Chú, đứng một mình là trong hoang mang thì có phúc, với Thiên Tướng là có Phúc Thọ, gặp Thiên Phủ là vui vẻ, an cư lạc nghiệp không bị ưu buồn, cùng Phá Quân là mộ không phát phải lao tâm phí lực, gia Dương Đà Hỏa Linh là lao khổ.
Thiên Phủ là Thổ tinh, tổ sơn đại địa, được phát phúc, trường cửu, nếu bị Tuần, Triệt, Kiếp Không là Trưởng bại thứ thành tha hương bôn tẩu tuy phát nhưng không lâu, địa khí đã kiệt.
Thiên Phủ chỉ mộ ngũ đại ngoại được yên tĩnh hưởng Phúc với Tử Vi là một đời khoác lạc, với Liêm Trinh thân thì yên mà tâm thì hoang mang, cùng Vũ Khúc, nhỏ thì cực khổ đắng cay, trung và vãn niên thì được an lạc hưởng Phúc gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Hao Kỵ là lao khổ đệ nhất.
Thái Âm thủy tinh là địa thế cao vợi, gặp Khoa Quyền chiếu lại ắt được Mộc Tinh khí thủy an cực là đứng đầu Thiên hạ. Nếu gặp Khốc Hư Tuần Triệt, Đà Kỵ là giả huyệt không phải thật, con cháu không được thịnh vượng. Thái Âm là Mộ Mẹ (Mẹ còn chỉ mộ Bà Nội), nhập miếu là hưởng phúc khoái lạc, cùng với Thái Dương là cực mỹ, làm tăng đạo cũng được thanh khiết hưởng phúc lâu dài, cùng Thiên Cơ thì tâm hoang mang, với Thiên Đồng thì an tĩnh vô ưu, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là có sự ưu buồn thì tốt, đời không được yên tĩnh.
Tham Lang là thủy Tinh gặp Vũ Khúc Khoa Quyền Lộc là địa khí nhiều, âm ỉ lâu bền, đứng đầu thiên hạ, phát mộ Ngũ đại, Nếu gặp Tuần Triệt là như một mở một đóng, một may rủi nhưng cũng không đến nỗi là họa hại.
Tham Lang chỉ mộ Ông Nội, lạc hãm là lao tâm không nên gặp Liêm Trinh thì phúc bạc, cùng với Tử Vi thì về già ắt được an lạc vui vẻ.
Cự Môn là Thủy đái Kim gặp Nhật, Hỏa Khôi Việt Cơ, Quyền Ấn là Vệ Huyệt (Khí Huyệt), các sao tốt cũng phụ là Văn Võ toàn tài, Riêu Đà Kỵ là hung táng là bị nơi Ác Sơn Ác Thủy, thì bị tai hung, trai gái bịnh tật yểu bần, hình ngục, huynh đệ bất hòa. Cự Môn chỉ mộ Bác ruột, lạc hãm là lao tâm không yên, cùng với Nhật có buồn có vui, cùng Thiên Đồng là huởng phúc, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là gặp nhiều sự ưu buồn.
Thiên Lương là Thổ đái Mộc hỉ kiến Văn Khúc, Khoa Quyền là đất phát Văn mà Vũ chiều vậy. Nếu gặp ở nơi Hãm địa và Tuần Triệt Mã Kỵ là địa thế bị hư liệt, trai thì du đãng, gái đa dâm, phá tán Tổ nghiệp.
Thất Sát là Hỏa đái Kim gặp Tử Vi Khoa Quyền là khi đất ấm áp trong trẻo đất cao trên đỉnh núi trùng trùng điệp điệp, long mệnh chạy tuy đoản (ngắn) nhưng ở ngoài chiều lại, là anh hùng oanh liệt, vũ liệt công hầu. Ở Hãm địa có Dương Đà Không Kiếp Kỵ Riêu Tuế tức là Cô long ngoài không chiều phục thì nhân đinh không vượng, yểu nhược tàn tật bình thường, lao tâm phi lực.
Là Mộ gì gặp Vũ Khúc thì lâu mới yên, với Liêm Trinh là cực nhọc, cùng Tử Vi thì trước lao khổ sau mới an nhàn về sau được toại ý.
Số Đàn bà mà cung Phúc đức có một sao Thất Sát tất chỉ làm Nô tỳ, Ca kỹ.
Thiên Tướng là Thủy đái mộc gặp Khoa Quyền Khôi Việt là đất long mạch đang lên chiều cao vọi, đời đời Công Hầu bá tước. Nếu gặp Tuần Triệt Không Kiếp thì long mạch bị kim châm chích thương tàn trong hoạn lộ thì bị hoán cải, cách chức, là sĩ thứ thì bị thị phi.
Thiên Tướng chỉ mộ Cậu, đắc địa thì được an nhàn hưởng phúc sống lâu, gặp Tử Vi là khoái lạc, với Thiên Cơ thì hoang mang mà trong được tốt, cùng Thái Dương thì Phúc Thọ song toàn, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì tâm không được yên.
Phá Quân là Thủy đái Thổ gặp Vũ, Khoa, Quyền, Khôi, Việt là Tú khí ắt Văn Võ kiêm toàn đỗ đạt cao. Nếu ở nơi Hãm địa gặp Liêm Phục Hình là đất ác khí như tinh sơn Kim hình khắc Mộc như bị mũi nhọn đâm vào chết. Là mộ cụ Ngoại, là lạc hãm là lao tâm phí lực, cùng Vũ Khúc là lâu mới yên, với Liêm Trinh là khổ cực.
Cùng Tử Vi là an lạc, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp cả đời không được yên tĩnh.
__________________
Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

thay đổi nội dung bởi: htruongdinh, 20-09-09 lúc 20:01
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 2 Hội viên đã cảm ơn đến "htruongdinh" về bài viết có ích này:
  #3  
Cũ 19-09-09, 09:53
htruongdinh's Avatar
htruongdinh htruongdinh is offline
Hội Viên Đặc Biệt
 
Tham gia ngày: Jun 2009
Bài gửi: 873
Hội Viên thứ: 68
Đã cảm ơn: 776
Được cảm ơn: 804 lần
trong 410 bài viết
htruongdinh is on a distinguished road
Default

Văn Xương là Kim đái Thổ, nếu có Văn Khúc, Khôi Việt Tả Hữu là đất phát con cháu khôi ngô thông minh, phát về sự nghiệp Văn Chương. Nếu gặp Dương Đà Riêu Linh thì bị yểu triết bần cùng, gia Cát tinh nhập miếu là hưởng phúc an lạc.
Văn Khúc là Thủy đái Hỏa gặp Khoa, Quyền Nhật Nguyệt là Long mạch hội lại rất nhiều, sơn tú thủy hoạt, con cháu trí tuệ thông minh. Nếu ở Hãm địa lại gặp Dương Đà, Hỏa Kỵ Riêu Tuế là đất võ khí, khí ác thủy xạ, tàn tật yểu triết.
Tả Phụ là Thổ đái Kim, gặp Tử Vi là được Tú khí các tinh tú ở ngoài củng chiếu, tay long tay hổ an bày tuyệt mỹ thì tốt vi Cực Quí, nếu gặp Tuần Triệt Đà Hỏa Riêu Kỵ thì nhân đình bị bại yểu, làm ăn cực nhọc. Đứng một mình thì về già được an ninh.
Hữu Bật là Thổ đái Thủy gặp Tử Phủ, Khôi Việt là đất tốt, đất được trúng huyệt ắt phú quí trường đại nhân đinh thịnh vượng, người trung hậu. Nếu gặp Tuần Triệt Riêu Kỵ tức là bị Vong Thủy hãm phá nhân đinh bần yểu.
Ở miếu vượng địa thì bình sinh được phúc lộc toàn, mỹ gia Cát tinh một đời ít ưu buồn.
Thiên Khôi là Hỏa đái Kim gặp Tử Phủ Khoa Quyền là được long cung hậu khí ứng 2 người mà con trưởng được văn võ thọ trường. Nếu gặp Kiếp Thông Tuần Triệt Đà Kỵ thì lại bị phản lại, con trưởng bị bại tuyệt, con thứ thì phá tổ nghiệp bôn ba.
Thiên Việt là Hỏa đái Mộc gặp Khoa, Quyền Nhật Nguyệt là đất cong cong ôm lấy mộ, được Tú khí con cháu văn hào đỗ Khôi Nguyên. Nếu gặp Thái Tuế Kình Đà Kỵ Kiếp Không Phá ắt là đất bị phạm hung sát, trai thì bị hình chu, gái thì dâm bật bại gia.
Khôi Việt có cả hai sao là quí lắm, quí nhân hưởng phúc an lạc.
Hóa Quyền là Mộc đái Thổ gặp Khôi Việt Tham Vũ là đất hình cung, Tú khí, văn võ toàn tài, nếu gặp Khốc Hư Đà Kỵ tức là bị “Hoàng Truyền Thủy Thế” là cây bị nắng khô, trai thì tuyệt tự, gái truỵ thai.
Hóa Khoa là Thủy đái Mộc Khôi Việt Tham Vũ Xương Khúc là đất đắc địa sinh nhân, Tứ khí, văn võ lại tài sinh người tuấn tú khôi ngô. Nếu gặp Tuần Triệt Không Kiếp là phản lại, tha hương cầu thực, hoán tổ ly tông.
Hóa Lộc là Thổ đái Mộc gặp Xương Khúc Hồng Loan là cuộc đất sơn thủy hướng chiều, Long Hổ chầu lại, người Văn Hoa đẹp đẽ làm đến Công Hầu. Nếu gặp Dương Đà Riêu Kỵ tất bị các khách tinh ở ngoài phản phúc thì trai gái đều bị khốn cùng.
Hóa Kỵ là Thủy đái Mộc là đất bị ác khí, có gặp Khoa Quyền Xương Khúc Khôi Việt tuy có Địa Long hậu khí, được quí hiển nhưng không bền ắt bị yểu triết bại tuyệt.
Long Trì là Thủy đái Kim gặp Khoa Quyền Xương Khúc cùng với Thiên Lương, Phượng Cát là đất đắc địa, đỗ đạt cao tột, khoa giáp trùng phùng. Nếu gặp Đà Kỵ Dương Riêu Tuần Triệt tức là giả Huyệt, trong ngoài Long Hổ đều sai, trai thì gian trá lọc lừa, gái thì dâm ô.
Phượng Cát là thổ đái Mộc gặp Khoa Quyền, Hồng Loan, Long Trì, Tử Phủ là đất được trong ngoài tú mỹ thì trai ăn học văn chương cao vọi, gái ắt Hoàng Phi. Nếu gặp Đà Kỵ Kiếp Không là Long Hổ bị thương tàn ắt không toàn mỹ.
Lộc Tồn thuộc Thổ gặp Cự Cơ Quyền Lộc thì được phú quí, làm quan đến Công hầu quí hiển, nếu gặp Không Kiếp Tuần Triệt, nhị Hao tức là Thủy triết bị tán bại, khốn cùng ly tổ. Ở miếu vượng địa là chung thân phúc hậu, gia Cát tinh được Hỉ Phúc.
Thiên Mã là Mộc đái Hỏa gặp Khoa Quyền Khôi Việt là Văn Hoa tuấn tú quí hiển lại có kỳ tài. Nếu gặp Dương Đà Riêu Kỵ là tất bị Long Hổ lệch vẹo ắt trai gái dâm loạn, tàn tật yểu triết.
Thiên Quan quí nhân là dương Hỏa là đất đại quí gặp Xương Khúc Khoa Quyền Lộc, Khôi Việt là Văn Khôi cao sĩ, gặp Tham Phá Vũ là Vũ cách đến bậc Công Hầu. Nếu Tuần Triệt Hoa Cái, Tấu Thư là nhà Sướng ca có tiếng tăm, gặp Đà Kỵ Riêu Kiếp là bị tàn tật hôn mê ngu xuẩn.
Thiên Phúc quí nhân là ám Thổ, là cuộc đất rất đẹp, gặp Tử Phủ Hồng Đào thì trai làm Phò mã, gái Cung Phi. Nếu gặp Phá Đà Riêu Kỵ Tuần Triệt là hung địa, trai làm Đạo sĩ ly tổ phiêu lưu.
Phong Cáo là Thổ đái Thủy gặp Tham Vũ Khoa Quyền là địa khí Cát tú; huyệt họa nơi nguy nga đẹp đẽ, được công dan hiển hách, vinh hoa phong tặng. Nếu gặp Tuần Triệt Đà Kỵ Hư Hỏa Kiếp ắt cả đời bôn tẩu không thì ở chốn thiền môn.
Thai Phụ là Thổ đái Kim gặp Khôi Việt, Nhật Nguyệt Tả Hữu đều chầu về huyệt ắt được văn võ công hầu. Nếu gặp Không Triệt Riêu Linh Phá Cự là Sơn thủy thô sơ ắt bị tuyệt vong.
Tấu Thư là Kim đái Thổ gặp Khôi Việt Nhật Nguyệt là văn học thành tài, nếu gặp Riêu Kỵ Thái Tuế là bại địa thì hay sinh ra người điên.
Hỉ Thần là Hỏa gặp Hồng Hỉ Phủ Cơ là Quí địa ắt phát Công Hầu nếu gặp Đà Kỵ Tuần Triệt Riêu Mã Mộc dục ắt là Thủy phá nguyên dầu (suối nước bị phá từ dầu), thì trai gái dâm đãng.
Bệnh Phù là Thổ đái Mộc gặp Riêu Kỵ Dương Đà là Ác Thủy phạm nguyên oa (là hung ác thủy phạm huyệt) trai bị phong cùi, gái bất đắc kỳ tử.
Đại hao Tiểu hao là cuộc đất bị nung nóng, gặp Tử Phủ Khoa Quyền Khôi Việt cũng không được tốt.
Phục Binh là Hỏa đái Kim gặp Khôi Việt Tuần Triệt Thất Sát là đại địa phát về Binh nhung uy chấn Thiên Hạ, nếu gặp Hình Kỵ Không Kiếp ở Tứ Mộ (Thìn Tuất Sửu Mùi) thì không tránh được nạn đao binh ác sát.
Kình Dương nhập miếu là trong nhà bị động như ốm đau tang tóc thì mới bắt đầu phát phúc, lạc hãm là lao tâm lâu mới có lực, hội với Cát tinh thì giảm được ưu buồn, một mình thì thân tâm bất an.
Đà La đứng một mình thì làm việc cực khổ, nhập miếu là có phúc lộc, hãm địa là bôn ba, gia Cát tinh thì về già có phúc.
Hỏa Tinh thì lâu yên lao lực tâm khổ, gia Cát tinh thì về già được toại trí.
Linh Tinh là lao khổ gia Cát tinh thì bình hòa, đứng một mình thì cay đắng đa đoan.
Đẩu quân gặp Cát tinh thì năm đó được yên tĩnh, gặp hung tinh thì bị hung sát lâu mới yên.

Nguồn : tuvilyso.net
__________________
Chào mừng bạn đến với huyền không lý số
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #4  
Cũ 19-09-09, 15:01
htruongdinh's Avatar
htruongdinh htruongdinh is offline
Hội Viên Đặc Biệt
 
Tham gia ngày: Jun 2009
Bài gửi: 873
Hội Viên thứ: 68
Đã cảm ơn: 776
Được cảm ơn: 804 lần
trong 410 bài viết
htruongdinh is on a distinguished road
Default

Một lá số, ứng với nhiều cuộc đời, nó có những khung, những khuôn mẫu nhất định cho nó. Tuy nhiên, một lá số theo tính toán lý thuyết có tới hơn 10 ngàn người . Như vậy, một lá số có nhiều cuộc đời, cái sự hiểu cho đúng, cũng nhiêu khê . Nhưng có như thế, mới thấy câu hỏi xuất hiện tự nhiên : Thế làm thế nào để biết, hay phân biệt người a với người b trong cùng một lá số mới có ý nghĩa ?.

Phân biệt a, b trong một lá số có nhiều cách .
Như cách thông thường, mà xem ra có vẻ dễ thuyết phục nhất . Đó là cách dựa vào hình tướng tử vi .

Lời bàn :" thầy mù không thể xem giỏi tử vi vì không có mắt để nhìn hình tướng, họ muốn giỏi phải dùng môn khác trợ giúp như Kỳ Môn Độn Giáp vậy, ví dụ cụ BALA. Muốn xem chính xác phải giỏi nhiều môn vì dùng một môn thì độ chính xác không cao có khi sai lầm nhiều, Ví dụ một lá số có nhiều cuộc đời....nếu không dựa vào điều khác mà chỉ dựa vào lá số thì biết họ sẽ đi theo hướng nào trong những cuộc đời đó".

Sách Ngũ Hành hình tướng dùng ngũ hành mà luận xem hình tướng đương số sẽ thế nào, mọi người nói mệnh này ăn sao này không ăn sao kia nhưng bí quyết ở chổ tại sao cùng lá số mà người hình tướng này hình tướng kia nên dùng ngũ hành như chúng ta thường luận thì đâu có được.

Phương pháp nữa là dùng phong thủy âm trạch . Phương pháp này khó nhất, nhưng cũng bá đạo nhất. Vì thế, phải thật thân thiết mới dám dùng . Nhưng lợi ích thì vô cùng lớn . Bởi có thể thấy từ đó những hình thế của âm trạch phong thủy mà sửa đổi Long mạch sao cho phù hợp, không phải là cải số, mà là để đảm bảo cho người có số ứng với cái người có số tốt nhất trong cái lá số đó . Đã có lợi ích thì cũng có cái bất lợi . Mà bất lợi thì cũng ghê gớm, hại người và hại ta . Thế thời, phương pháp này lại càng ngày càng trở nên huyền bí, được ngụy trang dưới nhiều hình thái khác nhau .

Mỗi phương pháp đều có bí quyết !. Không thể nói phương pháp này hay hơn phương pháp kia . Nhưng nếu giỏi cả ba phương pháp đó thì tốt nhất . Bởi một khoa học về con người, thì tri thức không bao giờ là đủ để nghiên cứu nó .

Nguồn : tuvilyso.net
__________________
Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

thay đổi nội dung bởi: htruongdinh, 20-09-09 lúc 20:03
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 3 Hội viên đã cảm ơn đến "htruongdinh" về bài viết có ích này:
  #5  
Cũ 19-09-09, 15:24
htruongdinh's Avatar
htruongdinh htruongdinh is offline
Hội Viên Đặc Biệt
 
Tham gia ngày: Jun 2009
Bài gửi: 873
Hội Viên thứ: 68
Đã cảm ơn: 776
Được cảm ơn: 804 lần
trong 410 bài viết
htruongdinh is on a distinguished road
Default

Trích : Giai thoại về Tử Vi đời Tống


Vua Tống :
- Trẫm có một thắc mắc : Trong cùng một giờ, một ngày, một tháng, một năm, có hàng vạn vạn người sinh ra, không lẽ cuộc đời họ cũng giống nhau ư?

Tây Sơn lão nhân :
- Bệ hạ hỏi thực phải. Điều này có chép trong Tử-vi kinh, nhưng bệ hạ không ngự lãm mà thôi.

Nhà vua cầm cuốn sách lên:
- Trẫm đã đọc kỹ, đọc đến thuộc làu, mà không thấy đoạn ấy. Đạo-sư chỉ cho biết vấn đề này chép ở chương nào.

- Xin bệ hạ mở trang đầu, bài phú Tử-vi cốt tủy, sẽ thấy.

- Quả thực trẫm sơ ý. Khi mở sách, trẫm đọc ngay chương nhất, mà không đọc phần tựa. Thì ra tổ chép ở đó.

Phú, thọ, quý, vinh, yểu, bần, ai, khổ,
Do ư phúc trạch cát hung.
Thương, tang, hình, khổn, hạnh, lạc, hỉ, hoan,
Thị tại vận hành hung cát.

À, hai câu này trẫm có đọc qua, mà không hiểu rõ cho lắm.

- Không phải mình bệ hạ, mà hầu như những đệ tử Hoa-sơn đời sau, khi xem số đều chỉ chú ý đến những cung Mệnh, Tài, Quan cùng vận hạn. Ít người chú ý đến cung Phúc cũng như cung Tật-ách. Cái chìa khóa khoa Tử-vi là câu này.

- Trẫm chờ đạo-sư chỉ dạy.

- Tâu bệ hạ, cung Phúc rất quan trọng. Nó ảnh hưởng đến ba cung Phu-thê, Tài-bạch, Thiên-di là lẽ đương nhiên. Nó gần như khống chế toàn cuộc đời về: Giầu-nghèo, thọ-yểu, sang-hèn, vinh-nhục, sầu-thảm và khổ-cực. Tùy theo cung Phúc tốt hay xấu mà biết đương số giầu hay nghèo, sống lâu hay chết yểu; sang hay hèn, sang cũng có nghĩa làm quan lớn, có danh tiếng hay không? Tức có vinh không? Rồi cuộc đời bi-ai hay toại chí đắc thế?

- Không ngờ cung phúc quan trọng như vậy. Nhưng trẫm vẫn chưa hiểu rõ hơn về những người sinh cùng giờ, ngày, tháng, năm.

- Tâu bệ hạ, cung Phúc bao gồm nhiều yếu tố cuộc đời. Mà cung Phúc lại ứng vào với ngôi mộ mà đương số được hưởng phúc.

- Trẫm vẫn chưa hiểu. Xin đạo-sư lấy một vài lá số làm tỷ dụ.

- Vâng, thần xin lấy số của Chiêu-văn quan đại học sĩ Vương Tăng cùng với số của Kinh-lược sứ Quảng-Tây lộ Vương Duy-Chính. Cả hai cùng sinh vào giờ Tỵ, ngày hai mươi tháng sáu năm Bính-Tý. Thế nhưng cuộc đời hai vị hoàn toàn khác nhau về chi tiết, nhưng đại thể thì giống nhau.

- Ừ nhỉ, khi bổ nhiệm hai người, trẫm đều xem qua số trước, nhưng trẫm sơ tâm không chú ý đến hai người cùng một số. Cả hai người cùng đắc cách Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương. Mệnh lập tại Dần. Đồng, Lương thủ mệnh, thêm Mã, Lộc, Tang, Hình, Tam-thai. Đồng, Lương là cách làm quan, nhưng đắc cách cực tốt Lộc, Mã giao trì. Tử-vi kinh nói Lộc, Mã giao trì, kinh nhân giáp đệ. Nên hai người tuy thi hai khóa khác nhau, mà cùng đỗ cao cả. Thời thơ ấu của Tăng thì yên ổn, nhung lụa. Còn thời thơ ấu của Chính thì khổ cực đến phải đi làm nô bộc. Cả hai cùng bị người anh ngu si, dốt nát, lêu lổng ghen tỵ, đánh đập. Cả hai năm trước đây vợ đều chết. Tăng tục huyền với con nhà danh gia. Chính tục huyền với con nhà bần hàn. Tăng làm quan tại triều, Chính trấn ngự Nam-thùy.

- Thần xin giải cái khác nhau đó. Cả hai vị cung Phúc-đức do Thái-dương thủ, ngộ Triệt, gặp Kiếp, Đà. Thái-dương chỉ vào ngôi mộ ông nội. Ngôi mộ ông nội của Tăng để vào đầu mỏm núi, hướng ra vòm sông, cảnh trí rất dẹp, giống như ngồi trong cái nghiên bút. Thế đất đó trong khoa Địa-lý gọi là Bút mặc, văn giai. Còn mộ ông nội Chính để vào khu ruộng trũng, phía trước có cồn dâu, trên cồn có tượng thờ hổ đá. Thế đất đó gọi là Bạch-hổ tọa trấn. Vì vậy Tăng thi đậu sớm, làm quan tại triều, chức tới tể thần, ngoài ra còn lĩnh Khu-mật-viện sứ. Còn Chính thi đậu trễ hơn mấy năm, gốc là quan văn, sang làm quan võ, hay Tử-vi kinh gọi là Xuất võ do văn .

Tây-Sơn lão nhân tiếp:
- Cả hai người, đều đắc cách Mã đầu đới kiếm, trấn ngự biên cương đến hai lần. Vì vậy Chính lĩnh kinh lược sứ Quảng-Tây, trấn Nam-thùy. Còn Tăng tuy ở triều, nhưng trong Khu-mật viện, y lĩnh trọng trách Nam-phòng cũng giống như trấn ngự biên cương.

- Trẫm tưởng chỉ một lần thôi chứ. Hai người cùng có cách Kình-dương cư quan tại Ngọ, là Mã đầu đới kiếm.

- Tâu bệ hạ, Thiên-hình, Thiên-mã thủ mệnh tại Dần cũng là cách Mã-đầu đới kiếm. Nhưng vì ngôi mộ ông nội của Tăng thiên về văn, nên tiến trình của Tăng văn nhiều hơn võ. Còn ngôi mộ ông nội Chính thiên về võ nhiều hơn văn, nên ngôi sao võ có dịp nổi dậy.

Lão nhân ngừng lại một lúc, rồi tiếp:
- Hồi thơ ấu, đức Thái-Tổ có người bạn tên Chu Năng. Hai người cùng số Tử-Vi. Cung Phúc-đức có Tham-lang tại Tuất. Ngôi mộ ứng với Tham-lang của đức Thái-Tổ kết phát nên người lập được nghiệp rồng. Còn ngôi mộ ứng với cung Phúc của Chu Năng ở vào chỗ cùng cực xấu, nên Chu cũng sáng nghiệp bằng cách qui dân lập được mấy ấp, được tôn làm hương trưởng, rồi sau khi chết được tôn làm thần Thành-hoàng. Đó bàn về phúc. Cung Phúc-đức bao gồm phần phúc và đức. Hai người cùng một số, nhưng tổ-tiên, ông-bà, bố-mẹ, và bản-thân xây dựng cái thiện-đức, thì đương số được hưởng phú, thọ, quý, vinh nhiều hơn. Phần yểu, bần, ai, khổ giảm. Còn như tiền nhân gây nhiều ác-đức, thì phú, thọ, quý, vinh giảm; mà yểu, bần, ai, khổ tăng.

Nhà vua hiểu ra:
- Như vậy những người cùng số, có cuộc đời hao hao giống nhau. Nhưng tùy theo ngôi mộ ứng với cung Phúc-đức táng ở thế đất kết hay bại, mà phú, thọ, quý, vinh, yểu, bần, ai, khổ khác nhau. Bây giờ tới vấn đề khác. Như số những người chết một lúc như chiến-tranh, đắm thuyền. Không lẽ số những người đó đều đến ngày ly thế cả hay sao?

- Tâu bệ hạ, trong Tử-vi kinh có nói rồi. Thần xin đọc:
Vận con phải thua vận cha.
Vận người không bằng vận nhà.
Vận nhà không bằng vận làng.
Vận làng không bằng vận châu.
Vận châu không bằng vận nước.
Vận nước không bằng vận thiên hạ.

Nhà vua suýt xoa:
- Trẫm hiểu rồi! Trước đây trẫm đọc đoạn này chỉ hiểu lờ mờ. Bây giờ nhờ đạo sư nhắc, trẫm mới vỡ lẽ. Trẫm thử kiến giải xem có chỗ nào sai, đạo sư minh cho. Như hai trẻ cùng số, nhưng thời thơ ấu sống với cha mẹ. Nếu cha mẹ giầu sang, thì dù số nó xấu, vẫn được ấm no. Còn như cha mẹ nghèo khó, thì dù số nó tốt, vẫn bị cơ cực. Đó là vận con phải thua vận cha.

- Bệ hạ kiến giải thực minh mẫn. Rộng hơn chút nữa, một người ở trong làng, dù số tốt hay xấu cũng phải chịu chung số phận của cả làng. Tỷ như hai người cùng số giầu. Một người sống trong làng giầu, thì của cải súc tích. Còn người sống trong làng khó, thì chỉ giầu so với người trong làng, nghĩa là kha khá vậy thôi.

- Trẫm hiểu rồi, khi người ta đi cùng thuyền, giống như ở trong cùng làng. Nếu hơn phân nửa người trong thuyền tận số, thì thuyền đắm. Số còn lại bị chết oan theo. Như vận một châu không có người chết, nhưng vận nước có binh ách, châu cũng chịu chung, ắt có nhiều người chết.

Nguồn : tuvilyso.net
__________________
Chào mừng bạn đến với huyền không lý số
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 3 Hội viên đã cảm ơn đến "htruongdinh" về bài viết có ích này:
  #6  
Cũ 03-11-09, 00:38
gauxamk's Avatar
gauxamk gauxamk is offline
Hội Viên
 
Tham gia ngày: Oct 2009
Bài gửi: 10
Hội Viên thứ: 407
Đã cảm ơn: 16
Được cảm ơn: 4 lần
trong 4 bài viết
gauxamk is on a distinguished road
Default

Các bác các chú bình giúp cháu một nhân vật có lá số tử vi mà cung tài như sau. Bát tự như sau: Sinh Quý Hợi. Tháng Đinh Tị (tháng 4). Ngày Đinh Tị (ngày 17) giờ Tân Sửu. Mệnh thủy Thổ ngũ cục.
Mệnh tại Thìn có Tham Lang
Thân cư Phúc có Liêm Tướng tại Ngọ.
Quan có Thất sát Hỏa tinh, quốc ấn, tướng quân, kiếp sát tại Thân.
Đặc Biệt cung Tài: Tại Tý có: Tuần Triệt đồng cung, Phá Quân đi cùng thiên không; địa kiếp; thiên hình; đào hoa; Lộc tồn; hóa lộc; ân quang đồng cung tại Tý.
Theo em thì con người này không đến nỗi phải hành nghề thầy bói và cuối đời phải đi ăn mày vì không còn chút tài sản nào cả.
Các bác thử bình cho một số mệnh phong ba này với.
Phong lưu âu cũng số trời sinh.
__________________
Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

thay đổi nội dung bởi: gauxamk, 03-11-09 lúc 18:19
Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời
Đề tài tương tự
Ðề tài Người Gửi Chuyên mục Trả lời Bài mới
Hạnh phúc là gì ? admin Hội thảo chuyên đề 47 18-06-14 10:18
12 cung SVTT và nghành nghề kimcuong Tử bình 38 17-01-11 21:46
Giải đoán cung Phu-Thê Ducminh Tử vi 4 15-08-10 04:07
Hạnh phúc là gi ? hoabinh Hội thảo chuyên đề 2 09-04-10 17:18
Học bắn cung vanti67 Thư Giãn - Giao Lưu 0 03-08-09 00:05


Tags
đức, cung, phúc

Ðiều Chỉnh Tìm trong bài
Tìm trong bài:

Tìm Kiếm Chi Tiết
Xếp Bài

Quuyền Hạn Của Bạn
Bạn không thể gửi đề tài mới
Bạn có thể gửi trả lời
Bạn không thể gửi đính kèm
Bạn có thể sửa bài viết của mình

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến


Múi giờ được tính theo giờ GMT +8. Hiện tại là 15:09.


Bản quyền thuộc về HUYỀN KHÔNG LÝ SỐ © 20-06-2009.
® Ghi rõ nguồn "HUYENKHONGLYSO.COM" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
Trang web chạy tốt nhất trên trình duyệt FireFox độ phân giải (1024x768)